9 nguyên tắc kinh điển trong ngành Y không được phép quên


  
  
  
     
Lượt xem: 18466 | Đăng bởi: dinhvancuong

Câu chuyện Y dược của trường Cao đẳng y dược Pasteur hôm nay xin giới thiệu đến quý độc giả các bạn sinh viên ngành Y, các Bác sĩ, điều dưỡng viên... 9 nguyên tắc kinh điển trong ngành Y dược Bác sĩ Từ  Quốc Thanh đúc kết. 

Ảnh minh họa.

9 nguyên tắc kinh điển trong ngành Y không được phép quên

Điều số 1:  Trước tiên là đừng có gây hại.

Đây là nguyên tắc kinh điển nhập môn của dân y. Nếu bạn chưa điều trị ổn cho bệnh nhân thì đừng khuyến mãi thêm cho bệnh nhân các tai biến do nhân viên y tế gây ra, các tai nạn ngoài ý muốn. 

Ví dụ: gãy tay trái mà mổ tay phải, bệnh nhân nằm viện vì viêm phổi nhưng lại bị thêm tai biến do quá liều thuốc.

Điều thứ 2. Nếu không biết làm gì thì tốt nhất là đừng làm gì cả.

Ngành Y dược không cho phép làm lại vị thế phải cần sự chính xác. Bác sĩ Từ Quốc Thanh cho rằng nếu Bác sĩ hay Điều dưỡng viên mà chưa biết xử trí ra sao thì hãy tìm sự trợ giúp từ đồng nghiệp qua hội chẩn, từ sách vở...Đừng xử trí đại theo thói quen, theo cảm tính vì có thể gây hại thêm cho bệnh nhân. Và coi chừng vi phạm nguyên tắc đầu tiên đó là đừng gây hại cho ai. Điều quan trọng là phải biết chuyện nào mình còn dở, còn chưa biết. Cái tai hại là nhiều người không biết mà cứ tưởng mình biết. Đây là ở tất cả những người nói chung chứ không phải ở những cán bộ ngành Y dược

Ví dụ: Bệnh nhân nhập viện vì đột quỵ não do huyết khối, có huyết áp cao; việc hạ áp đột ngột và nhanh sẽ làm vùng nhồi máu não lan rộng hơn; và gây hại nhiều hơn là không xử trí gì.

Điều thứ 3 đó là phải nghĩ đến một bệnh nguy hiểm trước một bệnh ít nguy hiểm hơn.

Là Bác sĩ nhiều năm sẽ hình thành được tính cách này. Đây là những Bác sĩ già dặn kinh nghiệm và còn thiếu ở những Bác sĩ trẻ.  Một bệnh nguy hiểm nếu được phát hiện sớm và xử lý kịp thời thì sẽ có cơ may chữa trị khỏi được.

Ví dụ: nhìn 1 ổ loét dạ dày phức tạp, phải nghĩ đến bệnh K dạ dày dạng loét trước bệnh loét dạ dày.

Điều thứ 4 đó là  phải nghĩ đến một bệnh còn chữa được trước một bệnh không còn khả năng chữa được.

Bác sĩ Từ Thanh Quốc cho rằng nhiều bác sĩ cứ nghĩ đến bệnh không còn chữa được rồi buông xuôi luôn, không còn cố gắng chữa trị nữa. Thân nhân khi nghe giải thích như thế cũng buông, đưa bệnh nhân về nhà chờ chết. Trong thực tế nhiều bệnh nhân được 1 bệnh viện (bv) này cho về chờ chết nhưng rồi được cứu sống ở 1 bệnh viện khác.

Ví dụ: Trước 1 hình ảnh tổn thương đa ổ ở gan, phải nghĩ đến áp xe gan đa ổ và loại trừ nó trước khi nghĩ đến K gan do di căn. Tương tự, trước 1 tổn thương đa ổ ở phổi, phải nghỉ đến viêm phổi do tụ cầu trước K phổi do di căn.

Điều số 5  phải nghĩ đến 1 bệnh thường gặp trước 1 bệnh ít gặp hơn.

Một ví dụ vui nhưng rất hữu ích trong việc này đó là khi nghe tiếng hí, hãy nghĩ đến con horse (ngựa) trước khi nghĩ đến con zebra (ngựa vằn) vì con ngựa thường gặp hơn, nên xác suất đúng sẽ cao hơn. 

Ví dụ: Khi gặp 1 bệnh nhân đau hố chậu phải thì hãy nghĩ đến viêm ruột thừa trước khi nghĩ đến các bệnh như bệnh Crohn, lao hồi manh tràng.

Xem thêm: Nhiều ý kiến trái chiều cho rằng nên sửa đổi điều kiện liên thông ngành Y dược

6. Khi mọi việc đang diễn tiến thuận lợi thì cứ tiếp tục hành động như cũ.

Nếu tình trạng bn đang diễn tiến thuận lợi thì đừng thay đổi điều trị. Trong thực tế vẫn có những trường hợp bệnh đang diễn tiến tốt nhưng vì những lý do vô hình, hữu hình hay tế nhị gì đó, Bác sĩ lại đổi thuốc, thêm 1 thuốc khác, cuối cùng lại sinh chuyện. 

Ví dụ: Bệnh nhân viêm phổi đang đáp ứng tốt với điều trị kháng sinh, kết quả kháng sinh đồ về dù ko ủng hộ cho kháng sinh đang dùng thì Bác sĩ vẫn phải tiếp tục dùng kháng sinh cũ, đừng đổi kháng sinh.

Điều số 07, khi việc đang làm mà có diễn tiến bất lợi thì phải thay đổi hành động ngay.

Nếu bệnh nhân đang điều trị mà tình trạng có diễn tiến bất lợi thì phải tìm nguyên nhân và xử trí ngay. Không thể vẫn giữ nguyên điều trị như cũ và chờ đợi nó sẽ tự diễn tiến tốt lại. 

Ví dụ: Ca cô bé nữ sinh bị gãy chân phải bó bột ở Gia Lai, bệnh đã có diễn tiến bất thường nhưng bv vẫn giữ nguyên bó bột, không có xử trí gì khác cả. Đến lúc tháo bột thì đã quá trễ.

Điều số 8 cá thể hóa trong chẩn đoán và điều trị:

Người bác sĩ bình thường thì điều trị bệnh. Người bác sĩ giỏi thì điều trị bệnh nhân. Mỗi bệnh nhân có 1 cơ địa, thể trạng, ngưỡng chịu đựng, sức đề kháng và những bệnh đi kèm khác nhau.

Cũng 1 bệnh đó, nhưng trên những bệnh nhân khác nhau có thể biểu hiện triệu chứng khác nhau, mức độ nặng nhẹ khác nhau. Cũng 1 thuốc đó, nhưng trên bệnh nhân này thì dùng được, trên bệnh nhân kia là chống chỉ định; ở bệnh nhân này dùng liều cao được, ở bệnh nhân kia bắt buộc phải dùng liều thấp.

Ví dụ: Do vị trí ruột thừa nằm khác nhau nên bệnh viêm ruột thừa có nhiều thể khác nhau trên những bn khác nhau: thể dưới gan, thể sau manh tràng, thể tiểu khung...

Cuối cùng đó là phải chú ý những đối tượng bệnh nhân đặc biệt: người già, trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.

Bác sĩ Từ Thanh Quốc cho biết sở dĩ  muốn tách vấn đề này ra khỏi nguyên tắc 8 để nhấn mạnh.

a. Người già:

Triệu chứng thường mơ hồ (ít đau, ít sốt...), hay có nhiều bệnh đi kèm (tim, phổi, thận, dạ dày, khớp...), sức chịu đựng kém, sức đề kháng kém, dễ bị quá liều thuốc do chức năng gan thận đã kém, dễ bị tác dụng phụ của thuốc, tâm lý không bình thường (hay giấu bệnh hoặc đôi khi lo lắng quá mức, dễ mặc cảm, sợ chết... ).

Ví dụ: khi điều trị tăng huyết áp, huyết áp mục tiêu cần đạt được ở người trẻ là < 140/90 mmHg, nhưng ở người già có thể là cao hơn mức đó. Có những bn lớn tuổi, khi đưa HA xuống dưới 140/90 là bn chóng mặt, khó chịu và họ bỏ trị ngay.

b. Trẻ em:

Triệu chứng cũng thường mơ hồ, trẻ quá nhỏ không nói được, hoặc khai bệnh không chính xác, lưu ý các bệnh lý bẩm sinh hay sang chấn sản khoa đi kèm, sức chịu đựng kém, sức đề kháng kém, dễ bị quá liều thuốc (bác sĩ không chuyên khoa Nhi hay bị chuyện này), dễ bị tác dụng phụ của thuốc. Trẻ càng nhỏ thì càng khó trong chẩn đoán và điều trị.

c. Phụ nữ có thai:

Triệu chứng bệnh cũng thay đổi, có những bệnh đặc thù đi kèm (sản giật, thuyên tắc-huyết khối), 1 số phương tiện chẩn đoán và thuốc men là chống chỉ định ở phụ nữ có thai (không chụp Xquang được...).

Ví dụ: viêm ruột thừa ở phụ nữ có thai không có đau bụng ở hố chậu phải.

Lưu ý là một số bệnh nhân không biết là mình đang có thai.

Có những bệnh là do thai gây ra, có những bệnh bệnh nhân đã có trước đó nhưng khi mang thai thì thai sẽ làm cho bệnh nặng lên. Ví dụ: tăng huyết áp, hen phế quản, đái tháo đường, thuyên tắc-huyết khối... Nhiều bệnh, phương tiện chẩn đoán, biện pháp can thiệp điều trị, thuốc men có thể ảnh hưởng đến thai, do đó cần phải xem xét cẩn thận, tư vấn kỹ lưỡng trước với bệnh nhân để tránh thưa kiện rắc rối về sau.

Lưu ý: Ở từng giai đoạn mang thai luôn có những vấn đề khác nhau: 3 tháng đầu dễ sẩy thai, 3 tháng giữa dễ gây dị tật thai, 3 tháng cuối dễ bị sanh non, lúc chuyển dạ có những bệnh phức tạp đi kèm (thuyên tắc ối, phù phổi cấp...) Kinh nghiệm bản thân dành cho bác sĩ không phải chuyên khoa Sản: cho làm siêu âm sản khoa ngay khi bn nhập viện nếu có thể được để coi thai thế nào, tim thai còn hay mất rồi mời khám chuyên khoa sản càng sớm càng tốt.

Caodangyduochanoi.net -tổng hợp

Tag: ; ;

Tin tức khác

  • hotline
  • Đăng ký học

Tìm chúng tôi trên facebook

Liên kết website

  • Trung c y dược Phiếu đăng ký xét tuyển Cao đẳng dược hà nội
DMCA.com Protection Status